Tin Đại Học Kinh Tế - ĐHQGHN
Tổng hợp thông tin tuyển sinh sau đại học đợt 1 năm 2017 vào Trường ĐHKT - ĐHQGHN In Email
 Nhằm cung cấp tới bạn đọc những thông tin khái quát nhất về kỳ thi tuyển sinh sau đại học đợt 1 năm 2017, chúng tôi xin tổng hợp các thông tin trong bài viết này. Mời quý vị theo dõi:


Theo ueb.vnu.edu.vn
 
10 sự kiện và thành tựu nổi bật của Trường Đại học Kinh tế năm 2016 In Email
 
 


1. Được xếp thứ hạng cao về công bố quốc tế ISI theo phân ngành Kinh tế và Kinh doanh với 22 bài báo thuộc ISI/Scopus

Trong năm 2016, Trường ĐHKT tiếp tục duy trì số lượng bài nghiên cứu được công bố trên các tạp chí quốc tế (28 bài) trong đó có 22 bài báo thuộc hệ thống ISI/Scopus (năm 2015 có 16 bài), có 2 bài thuộc các tạp chí được xếp hạng Q1 (Có chỉ số trích dẫn cao). Dẫn đầu trong công bố quốc tế năm 2016 là Khoa Kinh tế Chính trị, đặc biệt TS. Trần Quang Tuyến - Giảng viên của Khoa có 9 bài. Nếu tính theo số bài báo SSCI phân ngành Kinh tế và Kinh doanh trên tổng số giảng viên, Trường Đại học Kinh tế được xếp vào loại cao tại Việt Nam.

Cũng trong năm 2016, lần đầu tiên tất cả các khoa trực thuộc Trường ĐHKT đều có bài báo đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế uy tín. Đây không chỉ là kết quả của những nỗ lực cá nhân của các giảng viên trong trường mà còn thể hiện tính đúng đắn của những chính sách khuyến khích, hỗ trợ và nâng cao năng lực của Trường Đại học Kinh tế và của Đại học Quốc gia Hà Nội đồng thời khẳng định chiến lược phát triển trở thành đại học nghiên cứu đạt đẳng cấp quốc tế của trường.

2. Được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Ngày 6/10/2016, cùng với 2 trường đại học thành viên của ĐHQGHN, Trường ĐHKT đã vinh dự đón nhận Giấy chứng nhận Kiểm định chất lượng giáo dục theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tính đến tháng 10/2016, mới chỉ có 6 trường đại học của Việt Nam được cấp chứng nhận kiểm định chất lượng giáo dục. Như vậy, Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN là 1 trong 6 trường đại học đầu tiên trên cả nước được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đây là niềm vinh dự, tự hào và là sự ghi nhận nỗ lực phấn đấu bền bỉ của toàn thể cán bộ, giảng viên Trường ĐHKT theo hướng đạt chuẩn chất lượng quốc gia và quốc tế trong đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội và nền kinh tế.

alt

Phó Giám đốc ĐHQG TP. Hồ Chí Minh kiêm Giám đốc Trung tâm KĐCLGD - ĐHQG TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hội Nghĩa trao Giấy chứng nhận KĐCLGD cho Trường ĐHKT - ĐHQGHN

3. Thành lập Viện Quản trị Kinh doanh trực thuộc Trường Đại học Kinh tế

Ngày 24/12/2016, Trường ĐHKT đã tổ chức Lễ công bố Quyết định thành lập Viện Quản trị Kinh doanh. Đây là mô hình viện đào tạo thuộc trường đại học đầu tiên của ĐHQGHN. Viện Quản trị Kinh doanh có con dấu, tài khoản riêng, có tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao theo xu hướng tự chủ đại học và chiến lược phát triển của Trường ĐHKT và ĐHQGHN. Sự ra đời của viện Quản trị Kinh doanh góp phần hoàn thiện cơ cấu tổ chức theo định hướng nghiên cứu của Trường đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị trong trường, tạo điều kiện cho các đơn vị phát huy được ở mức cao nhất những tiềm năng và thế mạnh của mình trong việc hoành thành chức năng và nhiệm vụ được giao.

4. Tổ chức nhiều hội thảo quy mô lớn, có tiếng vang

Trong năm 2016, Trường ĐHKT tiếp tục tổ chức nhiều hội thảo quốc tế có tiếng vang và sức lan tỏa rộng trong giới chuyên môn như: Hội thảo quốc tế “Pháp quyền ở Châu Á: Việt Nam và TPP”, “Hội thảo Châu Á - Thái Bình Dương về Quản trị thông tin (APCIM)”, Hội thảo “Phát triển thương mại biên giới: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam”, Hội thảo “Quản trị theo phong cách Nhật Bản tại Châu Á: phát triển hợp tác kinh doanh tại Việt Nam”, tham gia tổ chức “Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 5” với vai trò chủ trì Tiểu ban Kinh tế và Sinh kế. Các hội thảo quốc tế đã thu hút sự quan tâm của nhiều giáo sư, học giả ngoài nước… Trong năm 2016, Trường ĐHKT cũng đã tổ chức nhiều hội thảo trong nước, tiêu biểu là “Hội thảo Công bố báo cáo kinh tế thường niên 2016”, Hội thảo “Vai trò của ngân hàng xanh trong xanh hóa nền kinh tế” với sự tham gia và quan tâm của nhiều bộ, ngành, của nhiều chuyên gia kinh tế hàng đầu, của các nhà nghiên cứu thuộc các viện/ trường đại học lớn ở Việt Nam. Đây chính là những diễn đàn để các nhà khoa học, các chuyên gia trao đổi kết quả nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu - đào tạo của Trường ĐHKT; đồng thời cũng là cơ hội để cán bộ, giảng viên ĐHKT nâng cao năng lực nghiên cứu, mở rộng hợp tác với các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước.

alt

Tại Hội thảo quốc tế “Pháp quyền ở châu Á: Việt Nam và TPP”

5. Mở mới 4 chương trình đào tạo chất lượng cao trình độ đại học và sau đại học

Năm 2016 trường đã mở mới 4 chương trình chất lượng cao, đó là: Cử nhân Quản trị Kinh doanh, Cử nhân Kinh tế Quốc tế, Thạc sĩ Quản trị các tổ chức tài chính và Thạc sĩ Kinh tế biển. Cũng trong năm 2016, Nhà trường đã tổ chức tuyển sinh thành công khóa đầu tiên của 2 chương trình đào tạo Cử nhân chất lượng cao ngành Quản trị Kinh doanh, Kinh tế quốc tế và hiện đang tiến hành tuyển sinh 2 chương trình đào tạo sau đại học là Thạc sĩ Kinh tế biển và Thạc sĩ Quản trị các tổ chức tài chính. Đây là những chương trình đào tạo được xây dựng gắn liền với thực tiễn và đạt chuẩn quốc tế. Các chương trình đào tạo này sẽ giúp Trường nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu xã hội, đồng thời khẳng định thương hiệu trong việc đào tạo chất lượng cao, đạt chuẩn quốc tế.

6. Bổ nhiệm 7 nhà giáo đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư và Phó Giáo sư

 

Năm 2016, Trường đã bổ nhiệm 7 nhà giáo đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư và Phó Giáo sư, trong đó có 3 nhà giáo là giảng viên cơ hữu nâng tổng số Giáo sư, Phó Giáo sư của Trường lên 24 người, trong đó có 2 Giáo sư và 22 Phó Giáo sư. Với tỷ lệ giảng viên có học hàm giáo sư, phó giáo sư là 23% cùng với tỷ lệ giảng viên có học vị tiến sĩ đạt 73% trường đã đạt, thậm chí cao hơn, yêu cầu đối với tiêu chí đại học nghiên cứu theo hướng dẫn của ĐHQGHN (60% đối với tỷ lệ giảng viên là tiến sĩ và 20% đối với tỷ lệ giảng viên là Giáo sư, Phó Giáo sư). Điều này thể hiện chất lượng nguồn nhân lực của Trường ngày càng được nâng cao, đây là điều kiện tiên quyết và cơ bản nhất để đẩy mạnh chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong toàn trường.

alt

GS.TSKH. Trần Văn Nhung - Tổng Thư ký Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước trao Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn chức danh PGS cho TS. Nguyễn Trúc Lê

7. Số lượng các đề tài cấp nhà nước tăng mạnh

Năm 2016, Trường đã đấu thầu thành công 11 đề tài Nhà nước thuộc các chương trình nghiên cứu khác nhau như KX01, KX04, Chương trình Tây Bắc, Chương trình biến đổi khí hậu, Quỹ Nafosted... Đây là những nguồn lực quan trọng giúp cho trường nâng cao năng lực nghiên cứu của giảng viên, mở rộng các mối quan hệ về nghiên cứu và hỗ trợ công tác đào tạo... Điều này cũng thể hiện rằng năng lực nghiên cứu của các giảng viên trong trường đã được nâng cao và đang được phát huy trên thực tế.

8. Quỹ hỗ trợ phát triển Trường ĐHKT chính thức đi vào hoạt động

Năm 2016 Quỹ hỗ trợ phát triển Trường ĐHKT với vốn pháp định 1 tỷ đồng và với 3 thành viên sáng lập là Trường ĐHKT, Tập đoàn Alphanam và Tập đoàn IMG đã chính thức đi vào hoạt động. Đây là Quỹ hỗ trợ phát triển đại học đầu tiên trong các đơn vị thành viên ở ĐHQGHN và là kênh thu hút và tài trợ nguồn lực bổ sung cho nghiên cứu của các giảng viên, nghiên cứu viên cũng như người học của trường trong bối cảnh nguồn lực từ ngân sách Nhà nước ngày càng giảm. 
 

9. Tiên phong trong việc phát triển và áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý, phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học

 

Trường ĐHKT là đơn vị đầu tiên trong ĐHQGHN triển khai thành công thu học phí online cho sinh viên và chấm công, nghỉ phép online. Trường cũng là đơn vị đầu tiên trong ĐHQGHN xây dựng web mobile. Năm 2016, Trường đã đưa vào vận hành 4 trang web mobile tiếng Việt, đồng thời nâng cấp hệ thống website theo định kỳ, nâng cấp hệ thống quản trị web và thay đổi giao diện website tiếng Việt, tiếng Anh. Năm 2016, website Trường ĐHKT tiếp tục được đánh giá là một trong những website tiêu biểu trong việc thực hiện phát triển tài nguyên số của ĐHQGHN. Kết quả này thể hiện sự nỗ lực của Trường trong việc cung cấp một cách nhanh chóng, đầy đủ và phong phú các thông tin hoạt động, tài liệu khoa học tới cán bộ, giảng viên, người học và các đối tác của trường nhằm phục vụ đắc lực hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học.

alt

PGS.TS Nguyễn Việt Khôi trình bày trước các học giả quốc tế tại Tokyo (Nhật Bản) trong khuôn khổ Diễn đàn Lãnh đạo Châu Á năm 2014. Nguồn: I-House, Tokyo, Nhật Bản

10. Giảng viên Trường ĐHKT được các tổ chức ngoài ĐHQGHN đánh giá cao về năng lực nghiên cứu, tư vấn và được mời tham gia vào các chương trình nghiên cứu và hội đồng tư vấn cấp quốc gia

 

Năm 2016, giảng viên của Trường được mời tham gia vào Ban chủ nhiệm Chương trình Khoa học Công nghệ trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn 2016 - 2020, mã số KX01/16/20 của Bộ Khoa học và Công nghệ; Hội đồng Khoa học ngành Kinh tế học nhiệm kỳ 2016-2018 của Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Nafosted); Hội đồng tư vấn chính sách Tài chính và Tiền tệ Quốc gia; Hội đồng Lý luận Trung ương... Điều nay thể hiện sự ghi nhận của xã hội đối với những kết quả nghiên cứu, tư vấn cũng như năng lực nghiên cứu, tư vấn của các giảng viên trong trường trong thời gian qua.

(theo ueb.vnu.edu.vn)



 
Thư chúc Tết của Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN In Email



Trong không khí tưng bừng, nhộn nhịp chuẩn bị đón chào năm mới 2017 và đón Xuân Đinh Dậu, PGS.TS. Nguyễn Hồng Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN đã gửi thư chúc Tết tới các cán bộ, giảng viên, sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh đã/ đang công tác/ học tập tại Trường. Nội dung bức thư như sau:

 

 

 

PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn, Hiệu trưởng Trường ĐHKT - ĐHQGHN

 

Kính gửi toàn thể cán bộ, giảng viên, sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN


Nhân dịp bước sang năm 2017, đón tết cổ truyền Đinh Dậu, thay mặt Đảng ủy, Ban Giám hiệu Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN, tôi thân ái gửi đến toàn thể cán bộ, giảng viên, sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh đã/ đang công tác/ học tập tại Trường cùng gia đình những tình cảm quý trọng và lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất.

Với truyền thống đoàn kết và với những nỗ lực phấn đấu không ngừng nghỉ của toàn thể cán bộ, giảng viên, sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh của trường, năm 2016 khép lại với nhiều khó khăn đã được khắc phục, với nhiều thành tựu đã được tạo dựng và đánh dấu bước phát triển vững mạnh của Trường trong quá trình hướng tới một đại học nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế: Được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Đấu thầu thành công nhiều đề tài cấp Nhà nước, doanh nghiệp và địa phương; Mở mới 4 chương trình đào tạo đại học và sau đại học chất lượng cao và thực hiện tuyển sinh thành công; Giảng viên của trường được các tổ chức ngoài ĐHQGHN đánh giá cao về năng lực nghiên cứu, tư vấn và được mời tham gia vào các chương trình nghiên cứu và hội đồng tư vấn cấp quốc gia...

Có được những thành tựu đó là nhờ truyền thống đoàn kết cùng những đóng góp trí tuệ, sáng tạo và cống hiến không ngừng của mỗi cá nhân, tập thể Nhà trường. Chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN. Đây chính là động lực để chúng ta tiếp tục phấn đấu và phát triển trong năm 2017 và những năm tiếp theo. Thay mặt lãnh đạo Trường Đại học Kinh tế, tôi nhiệt liệt biểu dương và đánh giá cao những đóng góp và nỗ lực vượt bậc đó. Với những nền tảng vững chắc và thương hiệu đã được tạo dựng, năm 2017 (năm trường kỷ niệm 10 năm thành lập và hướng tới 45 năm truyền thống) sẽ là năm phát triển đột phá của trường với những sản phẩm đào tạo đặc thù, đáp ứng tốt nhu cầu xã hội về chất lượng và tính thực tiễn, với những sản phẩm nghiên cứu và tư vấn đặc thù mang tầm quốc gia và quốc tế.

Trong không khí vui tươi, phấn khởi của mùa xuân mới, tôi mong muốn và kêu gọi các thầy cô giáo, cán bộ, viên chức cùng toàn thể sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh của Trường cùng tiếp tục hợp lực và đổi mới, đoàn kết và phấn đấu đạt nhiều thành công mới góp phần xây dựng Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN trở thành cơ sở đào tạo chất lượng cao, địa chỉ nghiên cứu khoa học và cung cấp dịch vụ có uy tín, bắt nhịp thành công vào xu hướng phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp mới (cách mạng công nghiệp 4.0) cũng như góp phần tiếp tục đổi mới nền kinh tế nước nhà. Phát triển liên tục, phát triển với chất lượng cao, phát triển đột phá nhưng bền vững theo định hướng đại học nghiên cứu sẽ luôn là đặc thù và chiến lược phát triển lâu dài của Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN.

Nhân dịp đầu năm mới, một lần nữa, tôi thân ái gửi lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, an khang, thịnh vượng đến các thế hệ cán bộ, giảng viên, sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN cùng gia đình.

Chúc Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN tiếp tục phát triển và thành công!

Thân ái.

 

 

Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN
PGS.TS. Nguyễn Hồng Sơn


(theo ueb.vnu.edu.vn)

 


 

 
Các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Du lịch In Email

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã  hội hóa cao. Chất lượng của hoạt động du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tiềm năng tài nguyên du lịch, hệ thống cơ sở  vật chất, kết cấu hạ tầng, chính sách phát triển ngành du lịch của nhà nước, tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội của đất nước…Ngoài ra, chất lượng nguồn nhân lực du lịch là một trong những yếu tố rất quan trọng trong phát triển Du lịch. Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch đang được Bắc Giang quan tâm.

 alt

          1. Thực trạng

 Hiện nay tỉnh ta có 285 cơ sở lưu trú, có khoảng gần 3000 phòng nghỉ. Đó thẩm định được 293 cơ sở trong đó có 8 kháchsạn 2 sao, 8 khách sạn 1 sao. Toàn tỉnh có 740 Các bộ quản lý và nhân viên, trong đó quản lý gián tiếp 151 người: Đại học, cao đẳng 45 người; trung cấp, bằng nghề 39 người; sơ cấp 20 người; bồi dưỡng và đào tạo tại chỗ là 47 người. Trong số lao động trên, những người có bằng cấp thường làm việc tại các cơ sở lưu trú du lịch có quy mô lớn của tỉnh. Những người không có bằng cấp thường chỉ xin được việc tại các cơ sở lưu trú tư nhân có quy mô nhỏ. Riêng các cơ sở kinh doanh theo mô hình nhà ở có phòng cho thuê thì chủ cơ sở sẽ sử dụng lao động nhàn rỗi trong gia đình là chính, số lao động này hầu như mới được hướng dẫn và đào tạo tại chỗ. Trình độ ngoại ngữ của đội ngũ này vẫn còn yếu, chỉ có khoảng 10% số người có bằng hoặc chứng chỉ ngoại ngữ, nhưng về ít được sử dụng (ít khách nước ngoài) nên khả năng giao tiếp yếu, chỉ có lễ tân ở các khách sạn lớn mới có khả năng giao tiếp bằng tiếng nước ngoài.

 alt

Về kinh doanh lữ hành: Toàn tỉnh có 18 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành và vận chuyển khách (trong đó có 03 doanh nghiệp được Tổng cục Du lịch cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế) 304 lao động trong các đơn vị, trong đó có 9 Giám đốc doanh nghiệp lữ hành có trình độ đại học, trung cấp, bằng nghề 7 người, bồi dưỡng và đào tạo tại chỗ 4 người. trưởng, phó các bộ phận có 18 người đạt trình độ đại học, cao đẳng (chiếm 100%). Hướng dẫn viên du lịch có 12 người: trình độ đại học 10 người (chiếm 83%); trung cấp, bằng nghề 02 người (chiếm 17%). Số hướng dẫn viên này chủ yếu thực hiện việc hướng dẫn khách là người trong nước thực hiện các tour du lịch đã được hợp đồng. Nhân viên lữ hành có 54 người: trình độ đại học, cao đẳng 20 người (chiếm 37%); trung cấp, bằng nghề 16 người (chiếm 29,7 %); bồi dưỡng và đào tạo tại chỗ 18 người (chiếm 33,3%). Lái xe vận chuyển khách và bảo vệ có 200 người: bằng nghề 200 người (chiếm 100%).

 alt

          Chất lượng lao động ở các doanh nghiệp tham gia kinh doanh du lịch còn nhiều hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp như: một số cán bộ quản lý chậm đổi mới, đội ngũ lao động trực tiếp đang hoạt động trong các doanh nghiệp hiện có khoảng trên 1000 người nhưng hầu hết các lao động này làm theo mùa vụ, chưa qua đào tạo về du lịch, thiếu trình độ ngoại ngữ, thiếu kĩ năng giao tiếp do vậy ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dịch vụ còng như hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn.

          Nguồn nhân lực quản lý Nhà nước về Du lịch: toàn tỉnh có 36 người, trong đó công tác tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch 10 người; công tác tại các huyện, thành phố trực thuộc tỉnh 20 người (mỗi huyện 2 người); tại Trung tâm Thông tin và Xúc tiến Du lịch là 7 người. 100% cán bộ quản lý đã tốt nghiệp đại học và trên đại học.

Các bộ quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh chủ yếu là được đào tạo chuyên ngành quản lý kinh tế hoặc chuyên ngành khác. Khi được phân công công tác quản lý nhà nước về du lịch đã tích cực tìm hiểu, tham khảo các tài liệu về chuyên ngành du lịch để xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch. Thực hiện tốt công tác quản lý các cơ sở kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, do có rất ít người học về chuyên ngành du lịch nên mức độ chuyên sâu trong một số mặt còn hạn chế như việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch còn nhiều lúng túng, nhất là cán bộ quản lý cấp huyện còn phải kiêm thêm nhiều công việc khác nên việc triển khai lập quy hoạch phát triển du lịch trên địa bàn huyện rất chậm. Trình độ ngoại ngữ yếu, rất ít người có thể giao dịch hay đọc được tài liệu bằng tiếng nước ngoài.

2. Các giải pháp nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ quản lý du lịch:

          Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Du lịch tỉnh Bắc Giang, tháng 3/2013 UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch số 728 về việc Đào tạo nguồn nhân lực du lịch Bắc Giang giai đoạn 2013 – 2016. Trong đó tập trung vào các giải pháp chính sau:Xây dựng cơ sở đào tạo một cách hệ thống gồm dạy nghề, đào tạo các cấp từ trung cấp đến đại học về du lịch. Đổi mới cơ bản công tác quản lý và tổ chức đào tạo nguồn nhân lực, đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo theo chuẩn hóa quốc gia cho ngành du lịch, gắn lý thuyết với thực hành, đào tạo với nghiên cứu để nâng cao chất lượng giảng dạy và trình độ đội ngũ cán bộ giảng viên. Đào tạo mang tầm vĩ mô đồng thời cần phải dự báo được xu hướng phát triển du lịch, tránh hiện tượng đào tạo cấp tốc không bài bản để đáp ứng nhu cầu của du khách một cách bị động.Thay đổi những chính sách đối với lực lượng lao động trong ngành du lịch như: Cải thiện điều kiện lao động và nâng cao chất lượng môi truờng trong doanh nghiệp du lịch; Đề ra nhưng quy định nhằm hoàn thiện chế độ đãi ngộ, đánh giá và khen thưởng người lao động. Hoàn thiện hệ thống nội quy và tăng cường kỷ luật lao động; Bố trí và phân công lao động thích hợp.Ngoài ra còn thực hiện một số giải pháp cơ bản trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch như: liên kết bồi dưỡng nâng cao, đào tạo lại và tuyển dụng mới nhân lực thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về du lịch, liên kết tuyển dụng,đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ kinh doanh du lịch. Trong đó Bắc Giang sẽ tập trung thực hiện các giải pơhaps cụ thể đó là: Đào tạo tại chỗ:  Chọn các làng bản tại vùng du lịch và vùng đệm du lịch, tổ chức các lớp học ngắn ngày, đưa chuyên gia du lịch tới giảng bài, hướng dẫn cách làm du lịch cho người dân bản địa ở các điểm du lịch : Cấm Sơn, Khuôn Thần (Lục Ngạn); Khe Rỗ, Tây Yên Tử (Sơn Động); Suối Mỡ (Lục Nam).Phối hợp với các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, nông dân, cựu chiến binh…tại các xã, thôn bản có điểm du lịch cùng vào cuộc tham gia khai thác, phát triển du lịch cộng đồng tại địa phương.Gắn phát triển du lịch với phát triển kinh tế tại địa phương bằng cách nuôi trồng cây con đặc sản, phát triển nghề truyền thống, tạo sản phẩm bán cho du khách. Khuyến khích các hộ dân có đủ điều kiện làm dịch vụ lưu trú homestay cho du khách.Thường xuyên thanh, kiểm tra, giám sát các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch. Định hướng đến năm 2015 Bắc Giang có khoảng 1000 lượt người dân tại các khu điểm và vùng đệm du lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Giang được đào tạo, hướng dẫn kỹ năng làm du lịch theo hướng du lịch cộng đồng và tổ chức tham quan, trao đổi  kinh nghiệm trong hoạt động du lịch./.

                                                                      PHÒNG NGHIỆP VỤ DU LỊCH

 

 
Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch In Email
 Hạ tầng, sản phẩm du lịch huyện Mộc Châu (Sơn La) yếu kém, chưa phong phú, đa dạng các loại hình, đã ảnh hưởng đến việc phát huy tiềm năng của địa phương. Xây dựng Khu du lịch quốc gia Mộc Châu, nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho tỉnh Sơn La là phải nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch. 

Đào tạo nguồn nhân lực
Du lịch Sơn La mới phát triển sơ khai trong thế cạnh tranh rất lớn của cả nước cũng như khu vực và quốc tế, cơ sơ hạ tầng du lịch yếu kém, phần lớn là do người dân tự phát làm. Nếu du lịch Sơn La không có những “bứt phá” thì tình trạng “yếu thế” trong phát triển so với một số địa phương khác sẽ còn tiếp diễn, ảnh hưởng đến vị trí của du lịch Sơn La trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương cũng như trong chiến lược phát triển du lịch vùng Tây Bắc.


alt

Văn hóa lễ hội của đồng bào các dân tộc Mộc Châu được bảo tồn, phát huy, thu hút khách tham quan.

ÔngTrần Xuân Việt, Trưởng phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch huyện Mộc Châu cho biết: “Một trong những thách thức lớn nhất đối với việc phát triển du lịch của tỉnh Sơn La nói chung và huyện Mộc Châu nói riêng là nguồn nhân lực còn hạn chế cả về số lượng, lẫn trình độ quản lý, nghiệp vụ. Trong khi đó, ngành du lịch ngày càng đòi hỏi đội ngũ lao động phải giỏi và chuyên nghiệp, khi khách đến phải làm họ hài lòng, khi khách đi gây ấn tượng tốt để lần sau du khách quay lại. Các đơn vị, cá nhân, gia đình khi hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch phải bền vững, không mang tính chộp giật”. 

Theo ông Việt, những năm vừa qua, huyện Mộc Châu đã quan tâm đến công tác đào tạo đội ngũ nhân lực làm du lịch, mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, tổ chức các lớp bồi dưỡng cho người làm du lịch trên địa bàn huyện đi học hỏi kinh nghiệm ở các địa phương. Năm 2014, huyện Mộc Châu mở được 6 lớp cho 160 học viên học nghiệp vụ du lịch, đưa 20 người của các nhà hàng và khách sạn về Hà Nội học hỏi kinh nghiệm. Tuy nhiên, dân số tỉnh Sơn La và huyện Mộc Châu chủ yếu là người dân tộc thiểu số (chiếm hơn 70%), mặc dù tạo ra sự đa dạng về văn hóa, song trình độ dân trí thấp là trở ngại lớn về mặt văn hóa, xã hội trong quá trình phát triển du lịch, đặc biệt là chất lượng dịch vụ.

Huyện Mộc Châu hiện có khoảng 40 mô hình kinh doanh du lịch cộng đồng. Mùa du lịch, mỗi tháng trừ chi phí, trung bình một gia đình thu về 20 triệu đồng. Các thành viên tham gia câu lạc bộ, được trả công khoảng trên 4.000.000 đồng.

Bà Lữ Thị Huyền Mai ở bản Áng 2, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu (Sơn La) là người làm mô hình du lịch cộng đồng đầu tiên ở huyện. Năm 2008, chị Mai thành lập Câu lạc bộ du lịch tuổi trẻ Hoa Ban và tuyển chọn các bạn trẻ trong bản, hướng dẫn họ cách bảo tồn văn hóa Thái, xây dựng đội múa xòe, hướng dẫn cách nấu các món ăn dân tộc, dạy cách đón tiếp… Du khách đến với mô hình du lịch cộng đồng của chị Mai ngày một nhiều, họ thức khuya xòe, hát hò nên các hộ xung quanh phản ứng. “Năm 2009, gia đình tôi vay mượn dựng, ngôi nhà sàn để tổ chức đón khách, được hai năm sau bị người dân đốt cháy. Tôi nghĩ con đường phát triển du lịch của mình bị tắt, nhưng với lòng đam mê, muốn gìn giữ và giới thiệu bản sắc văn hóa dân tộc Thái, nên gia đình tôi cố gắng vay mượn làm lại. Tôi vận động các gia đình. Thấy hợp lý, họ học để làm theo, đón khách ăn uống, nghỉ và sinh hoạt văn nghệ tại chỗ”, bà Mai tâm sự. 

Một số hộ dân mong muốn, huyện và tỉnh hỗ trợ mở nhiều lớp dạy nghiệp vụ du lịch để người dân tham gia, gây dựng phong trào người người và nhà nhà làm du lịch. Chính quyền huyện Mộc Châu đứng ra tổ chức cho các hộ làm du lịch cộng đồng tham quan, học hỏi kinh nghiệm ở nhiều khu du lịch trong cả nước.

Giữ gìn không gian văn hóa du lịch


Sự phát triển đô thị, đặc biệt là xây dựng, các điểm du lịch, các khu nghỉ dưỡng, resort, các khu vui chơi giải trí không theo định hướng, quy hoạch đã làm phá vỡ cảnh quan vốn có của Mộc Châu, tạo nên thách thức không nhỏ đối với hoạt động phát triển du lịch của địa phương. Du lịch phát triển ồ ạt, mạnh ai nấy làm, kéo theo sự xuống cấp của môi trường, của nhiều điểm di tích lịch sử, văn hóa và suy giảm đa dạng sinh học… 

Công ty chè Ligarden Việt Nam ngoài mục đích sản xuất nhập khẩu chè khô, thu lợi nhuận, còn xây dựng đồi chè hình trái tim, đồi chè vân tay, đồi chè lượn sóng... Đây là điểm đến tham quan lý tưởng của du khách. Tuy nhiên, Giám đốc điều hành công ty ông Phạm Văn Sơn cho biết: “Người dân sống quanh đồi chè và một số khách tham quan không có ý thức bảo vệ môi trường, đổ và xả rác bừa bãi, gây ô nhiễm, ảnh hưởng mỹ quan, do vậy các dòng suối cũng bị ô nhiễm”. Thời gian tới, Công ty Ligarden Việt Nam sẽ quy hoạch lại đồi chè, trồng thêm vườn hoa, làm bãi đỗ xe, pha trà đặc sản phục vụ khách và thu vé làm phúc lợi xã hội. 

Trao đổi về vấn đề giữ gìn không gian văn hóa du lịch, lãnh đạo Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Sơn La cho rằng: “Chính quyền các cấp và ngành liên quan cần gắn kết việc giữ gìn, phát huy di sản văn hóa, với việc xây dựng, giữ gìn môi trường sinh thái văn hóa, đời sống văn hóa cộng đồng làng bản; đưa việc gìn giữ di sản văn hóa vào trong các hương ước, quy ước để người dân cùng thực hiện, đảm bảo về đời sống kinh tế cho người dân. Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phải được phối hợp chặt chẽ với việc phát triển du lịch bền vững”. Những năm qua, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Sơn La đã thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc trên địa bàn. Các di tích lịch sử, điểm danh lam thắng cảnh, không gian văn hóa cộng đồng bản làng, các lễ hội... được tỉnh đầu tư xây dựng, trùng tu, khôi phục và bảo vệ. Văn hóa phong phú, đa sắc màu là điểm lôi cuốn, gây ấn tượng cho du khách đến tham quan. Thiên nhiên và bàn tay lao động của con người đã tạo lên Mộc Châu có một nét riêng, không pha trộn, như nàng “sơn nữ” lung linh giữa đại ngàn.

Bài và ảnh: VH

 
Giảm chi phí và quản lý tinh gọn giúp tăng năng suất doanh nghiệp In Email

(VietQ.vn) - Năng suất lao động trong doanh nghiệp thấp có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng có thể khắc phục được bằng các công cụ giảm chi phí và quản lý tinh gọn để nâng cao hiệu quả.

alt

Cắt giảm chi phí nâng cao năng suất doanh nghiệp. Ảnh minh họa

Năng suất lao động của Việt Nam hiện bằng 1/10 của Indonexia, 1/20 của Malaysia, 1/30 của Thái Lan và chỉ bằng 1/135 của Nhật Bản. Căn cứ trên chỉ số cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới, năm 2009-2010 Việt Nam đứng hạng 75/133 về năng suất lao động, trong khi Thái Lan đứng hạng 36, tiếp đó là Malaysia hạng 24 và cao nhất trong khu vực là Singapore đứng hạng 3.

Kết quả như vậy có nhiều nguyên nhân nhưng theo các chuyên gia ở IMQ, có 3 nguyên nhân chủ yếu. Thứ nhất: Năng suất chưa bao giờ được Lãnh đạo cấp cao của doanh nghiệp quan tâm đầy đủ và đầu tư đúng mức, đưa lên ưu tiên hàng đầu.

Thứ hai: Các công cụ và phương pháp quản lý để tăng năng suất và cải tiến đã phổ biến trên thế giới từ lâu và được áp dụng rộng rãi nhưng hầu như chưa có đất dụng võ ở Việt Nam.

Thứ ba: Việc kiểm soát năng suất và chất lượng còn lỏng lẻo, không giao trách nhiệm và huấn luyện đào tạo phù hợp, không theo sát thực tế, không phân tích số liệu và giải quyết triệt để nguyên nhân của sự cố dẫn tới tỷ lệ hàng lỗi cao và thường xuyên bị lập lại.

Bằng cách áp dụng các công cụ quản lý sản xuất hiệu quả như Bảng Tiêu chuẩn hóa phân tích thao tác, Biểu đồ phân tích thao tác người và máy móc thiết bị, Bảng chuyển đổi mã hàng sản xuất, Công cụ phòng chống sai sót ... Lãnh đạo doanh nghiệp có thể ngay lập tức tăng hiệu quả và lợi nhuận từ 20% - 30% để vượt lên trong thời điểm quyết định hiện nay.

Với nhu cầu tăng năng suất để tìm kiếm và cải thiện lợi nhuận ngày càng cao hiện nay của doanh nghiệp, Sản xuất Tinh gọn Lean sẽ góp phần giúp doanh nghiệp tìm ra hướng đi mới, giảm thiểu chi phí để phát triển.

Lean có nghĩa là làm tinh gọn và tinh gọn hơn bằng cách loại bỏ những gì không tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp. Theo Lean trong quản lý và sản xuất bao gồm bảy loại lãng phí lớn.Kiểm soát được lãng phí và biến lãng phí đó thành lợi nhuận chính là mục tiêu của Lean.

Hồng Anh

 
Để nâng cao năng suất lao động cho người Việt Nam In Email
 Việt Nam đang trong thời kỳ dân số vàng với nguồn lao động khoảng 55 triệu trong số 90 triệu người. Hằng năm có hơn một triệu người tham gia vào thị trường lao động. Nguồn lao động trẻ và dồi dào đã mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội, nhưng việc có tới gần 80% lực lượng lao động chưa qua đào tạo hoặc không có bằng cấp đang cản trở Việt Nam khai thác hiệu quả cơ hội này. Trong khi đó, lợi thế và hàm lượng về chi phí nhân công rẻ đang giảm dần cùng với sự phát triển khoa học - công nghệ, áp lực cạnh tranh thị trường và nhu cầu tăng lương, cải thiện chất lượng sốngcủa người lao động.

alt

 

Tái cơ cấu để nâng cao năng suất lao động người Việt Nam

Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), năng suất lao động (NSLÐ) của Việt Nam thuộc nhóm thấp nhất châu Á - Thái Bình Dương và đang giảm dần. Trong giai đoạn 2002-2007, NSLÐ tăng trung bình mỗi năm 5,2% (mức tăng cao nhất trong khu vực) nhưng chỉ còn 3,3% từ sau năm 2008. Năm 2013, NSLÐ của Việt Nam chỉ bằng hai phần năm của Thái-lan, một phần năm của Ma-lai-xi-a, một phần 10 của Hàn Quốc, một phần 11 của Nhật Bản và một phần 15 của Xin-ga-po.

NSLÐ thấp không chỉ đối với công nhân, lao động sản xuất vật chất trực tiếp, mà còn cả lao động trong các lĩnh vực quản lý và lao động gián tiếp vĩ mô và vi mô khác, tạo nhiều hệ lụy tiêu cực, nhất là nghịch lý tăng, dư thừa lao động trong bộ máy quản lý, trong khi năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý không tăng, thậm chí suy giảm; sự chậm trễ trong các phản ứng chính sách và phản ứng thị trường, cũng như chậm cải thiện tình trạng nợ đọng chính sách, nợ đọng vốn, hàng tồn kho và năng lực cạnh tranh của cả doanh nghiệp và nền kinh tế...

Thực tế khẳng định, NSLÐ ở Việt Nam thấp so với các nước không phải do người Việt Nam thua kém lao động các nước khác về tính cần cù, cường độ lao động, khả năng nắm bắt kiến thức cần thiết khi được đào tạo đúng nội dung và phương thức, cũng như khả năng sáng tạo, tinh thần kỷ luật, năng lực hội nhập và thích nghi quy trình và môi trường lao động hiện đại khi được khuyến khích và tạo cơ hội, điều kiện phù hợp... Nói cách khác, một lao động Việt Nam sẽ làm ra sản phẩm với số lượng và chất lượng cao không thua kém lao động bất kỳ nước nào, nếu cùng trong một vị trí việc làm và điều kiện môi trường, trang bị lao động như nhau. Kết quả làm việc của hàng triệu lao động Việt Nam định cư trên thế giới hoặc làm việc tại các doanh nghiệp liên doanh có công nghệ và thiết bị hiện đại trong nước đã, đang và sẽ tiếp tục chứng tỏ điều đó.

Thực tế cũng cho thấy, nâng cao NSLÐ ở Việt Nam cần gắn liền với nâng cao chất lượng nội dung, yêu cầu, quy trình và phương thức đào tạo nguồn nhân lực; đẩy mạnh tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế, trước hết là cơ cấu ngành, sản phẩm và công nghệ; đổi mới tổ chức xã hội và các thể chế quản lý thích ứng; xử lý quan hệ giữa mục tiêu bảo đảm việc làm và an sinh xã hội với mục tiêu, yêu cầu hợp lý hóa tổ chức, sản xuất và đổi mới công nghệ, tạo áp lực nâng cao cả chất lượng và NSLÐ.

Ðây là một quá trình liên tục với những nhịp tăng tốc, đột phá cần thiết và đòi hỏi sự thống nhất nhận thức, sự tham gia và giải pháp đồng bộ của các ngành, các cấp, các bên có liên quan, nhất là Chính phủ, các doanh nghiệp và nhà trường, cũng như sự nỗ lực của bản thân người lao động trước nhu cầu thực tế thị trường hiện tại và tương lai...

TS. Nguyễn Minh Phong

 
«Bắt đầuLùi12345Tiếp theoCuối»

Trang 1 trong tổng số 5